Nhận thức về tài nguyên, quản lý và biến đổi khí hậu*

Năng lực quản lý là “nghệ thuật” tổ chức những hoạt động cụ thể...

Nhận thức về tài nguyên, phương thức quản lý và biến đổi khí hậu – Những vấn đề cần quan tâm trong phát triển bền vững *
Nguyễn Tác An
Hội Khoa học và Kỹ thuật Biển Việt Nam

* Lược trích theo báo cáo khoa học “Quản lý, sử dụng tài nguyên khu vực Nam bộ thích ứng với biến đổi khí hậu” trình bày trong Hội thảo khoa học khoa Địa lý 2014, ngày 3/10/2014.

  


  “Điểm mạnh” trong phát triển và hưng thịnh của Nam Bộ là có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú. Nhưng cũng chính điểm mạnh này lại là nguồn gốc làm nảy sinh những thách thức lớn. Trước hết là vấn đề kiến thức và kinh nghiệm quản lý bền vững các nguồn tài nguyên để “tái đầu tư vào nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn không thể “sờ nắm” được” để đột phá trong phát triển.


     Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững để tái đầu tư vào nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn không thể “sờ nắm” được như nhân lực, giáo dục, thể chế, phát minh, công nghệ mới và văn hóa… có ý nghĩa “đột phá” trong phát triển. Việt Nam nói chung, khu vực Nam Bộ, nói riêng, khác với các nước, các vùng phát triển trên thế giới ở nhiều khía cạnh, nhưng dễ thấy nhất là “ở nền tảng tạo ra của cải”. Bài học kinh nghiệm cho thấy, hầu hết các quốc gia đều khởi đầu với mức phụ thuộc tương đối cao vào nguồn vốn thiên nhiên, nhưng những nước phát triển đi lên là những nước quản lý nguồn tài nguyên một cách bền vững, tránh được “lời nguyền tài nguyên”, để rồi tái đầu tư vào nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người cũng như xây dựng thế chế và hệ thống quản lý vững mạnh.

     Các vấn đề cần quan tâm về quản lý, sử dụng tài nguyên để phát triển bền vững trong bối cảnh khí hậu đang biến đổi ở quy mô toàn cầu như sau đây.


     1. Nhận thức về tài nguyên
     Theo tư duy mới, tài nguyên là tất cả những gì có thể duy trì và phát triển sự tồn tại của con người. Cụ thể, gồm có tài nguyên thiên nhiên do các quá trình tự nhiên tạo ra (các dạng vật chất, năng lượng, thông tin, vị trí và các cấu trúc, hình thái không gian địa lý, cảnh quan, các dịch vụ sinh thái, điều tiết, hỗ trợ, tâm linh, tín ngưỡng….). Đó là những dạng mà con người có thể sử dụng hoặc cảm nhận được trong không gian phát triển. Tài nguyên nhân văn, do con người tạo ra (con người và chất lượng nguồn nhân lực, văn hóa, nền tảng kinh tế, cân bằng dân số, sức khỏe, sự ổn định chính trị, nền tảng pháp lý, chính sách, thể chế, cơ chế phát triển…).
Tài nguyên không chỉ đơn thuần là những dạng vật chất có thể khai thác (tài nguyên truyền thống) cho một mục tiêu kinh tế nào đó, mà đó là toàn bộ các yếu tố, có thể sử dụng dưới một hình thức nào đó, hoặc chưa sử dụng được nhưng sự tồn tại của nó đã tự mang lại lợi ích cho con người, ví dụ như vị trí địa lý, cấu trúc, hình thái, không gian địa lý, hay sự phát triển hợp lý của hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ chế, chính sách, kinh nghiệm quản lý bền vững tài nguyên, môi trường, khả năng tổ chức hiệu quả trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng...

     Các tài nguyên đều có giới hạn và thay đổi theo vùng địa lý, theo sự phát triển của xã hội, theo nhận thức của con người. Do đó nhận thức về tài nguyên luôn luôn thay đổi, “tiến hóa” phù hợp với sự biến đổi của tự nhiên và xã hội. Đánh giá giá trị sử dụng tài nguyên là công việc vô cùng phức tạp, đòi hòi phải có điều tra, nghiên cứu cụ thể, dựa vào các công cụ khoa học, kinh tế, công nghệ và nhu cầu của xã hội, của thị trường.

Tài nguyên khu vực Nam Bộ vô cùng đa dạng, phong phú và có thể sử dụng cho nhiều mục đích, nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, nhưng sử dụng hợp lý cho phát triển bền vững ở ba phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, đặc biệt là thích ứng với biến đổi khí hậu là một nhu cầu khách quan, mang tính thời đại và có nhiều thách thức. Sử dụng hợp lý tài nguyên là “sử dụng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao nhất mà không làm phát sinh mâu thuẫn lợi ích sử dụng và không không gây hại tới hệ thống tài nguyên và môi trường”. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vấn đề không hề đơn giản, Nam Bộ cần phải chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình quản lý tài nguyên dựa vào tư duy khoa học của phạm trù “nguyên nhân - kết quả “ và “kinh tế - lợi ích”.

     2. Nhận thức về quản lý tài nguyên môi trường
     “Quản lý” (QL) được hiểu là một phương tiện để kích hoạt sự phát triển. Đó là một quá trình tổ chức nguồn nhân lực, vật lực theo một cơ chế xác định để đạt mục đích đã định. Quản lý tài nguyên không chỉ mang tính “cai quản” chỉ dựa vào luật, chính sách và bộ máy tổ chức, mà nó còn có vận động, thuyết phục (QL sử dụng nguồn lợi, bảo vệ đa dạng sinh học, môi trường, các vấn đề về thể chế và QL tai biến thiên nhiên, biến đổi khí hậu...). Vấn đề quản lý luôn phức tạp và là một trong những thách thức lớn nhất cản trở tiến trình triển khai quản lý tài nguyên bền vững, tạo ra “của cải” ở nhiều quốc gia, nhiều vùng và địa phương .
Tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng không gian và tài nguyên hợp lý là những hoạt động bao gồm sự chỉ đạo, phối hợp, chia sẻ, kiểm soát và thông tin trong phát triển kinh tế, xã hội, dựa vào nhận thức, các công cụ khoa học, công nghệ, hệ thống thể chế, chính sách khả thi, phù hợp, theo quan điểm hiện đại và nhân văn: kết nối hệ thống, phát triển đa ngành có lựa chọn ưu tiên, nhất thể hóa chính sách, điều hòa lợi ích sử dụng, hướng tới sự phát triển “đáp ứng được ước mơ của dân chúng và cộng đồng cư dân ở địa phương, vì lợi ích tổng thể, hiện nay và trong tương lai” .
    
     Năng lực quản lý là “nghệ thuật” tổ chức những hoạt động cụ thể, nhằm khai thác hiệu quả, có lợi nhất các tài nguyên, nguồn lợi, bảo vệ được môi trường. Nói một cách khác, đây là năng lực tổ chức hiệu quả những hoạt động cụ thể, nhằm trả lời cho câu hỏi vốn có rất lâu đời: Điều gì làm nên sự giàu có và thành công của một quốc gia, một địa phương? Quản lý tài nguyên không chỉ là chỉ đạo, điều hành, phối hợp, kiểm soát, thông tin… mà còn phải chú ý đến chức năng kiến tạo phát triển.


     Đặc biệt là phải chú ý tập trung nâng cao giá trị sử dụng các dạng tài nguyên bản địa bền vững bằng cách gắn với công nghệ để tạo được giá trị gia tăng; phát triển năng lượng sạch, sử dụng khoa học, công nghệ trong phục hồi, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo, các hệ sinh thái nhiệt đới đặc trưng, thích ứng với biến đổi khí hậu và môi trường địa chính trị phức tạp ở biển Đông hiện nay.


     3. Nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu
    Biến đổi khí hậu (BĐKH) (chủ yếu là nhiệt độ tăng cao, xuất hiện thường xuyên hơn hiện tượng thời tiết cực đoan, mực nước biển dâng...) gây tác động, làm tổn thất một cách toàn diện lên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc gia. Khí hậu nóng không xấu hay tốt hơn khí hậu lạnh, nhưng vấn đề là cường độ thay đổi trạng thái khí hậu quá nhanh sẽ gây thảm họa sinh thái, đặc biệt là đối với hai hệ thống sinh thái tự nhiên và xã hội, đã hoàn toàn thích nghi với môi trường khí hậu hàng nghìn năm qua. BĐKH với nhịp độ nhanh sẽ góp phần gia tăng đáng kể các nguy cơ đe dọa trực tiếp cho sự tồn vong của con người và thế giới sinh vật, cả về quy mô địa lý và cường độ tổn hại. Việc gia tăng nguy cơ diệt chủng các loài động, thực vật đe dọa đa dạng sinh học, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm.

     Cho đến nay, sự hiểu biết của chúng ta về thiệt hại kinh tế do BĐKH còn rất hạn chế. Mặt khác các dự báo về BĐKH thường dựa vào mô hình với các kịch bản giả định nên có nhiều vấn đề không chắc chắn, nhất là về mặt phát triển kinh tế và xã hội của thế giới trong những thập niên tới đây. Tuy nhiên trong số đó có những số liệu dự đoán vẫn có giá trị cảnh báo về hậu quả BĐKH, nếu chúng ta không có chiến lược ứng phó phù hợp ngay từ bây giờ và trong những thập niên trước mắt.


     Kết quả tính toán về mặt kinh tế cho thấy, mỗi tấn CO2 phát thải vào khí quyển làm thiệt hại ít nhất là 85 US$. Riêng đối với Việt Nam, mức thiệt hại do BĐKH là 8% GDP hàng năm. Như vậy, theo dự tính, năm 2050 GDP Việt Nam đạt khoảng 500 tỷ US$, giá trị thiệt hại sẽ là 40 tỷ US$, đó là một con số tương đối lớn. Trong khi đó, bão, lũ gia tăng làm giảm nhịp độ tăng trưởng GDP xuống 0,01 - 0,08%/năm, còn mực nước biển dâng sẽ làm giảm GDP giai đoạn 2046 - 2050 xuống 0 - 2,5%.


     Nam Bộ, đặc biệt là ĐBSCL lại có những điều kiện địa lý mang tính địa phương đã được các chuyên gia lưu ý là một trong năm vùng có nguy cơ tổn thương nhất vì có hai phía giáp biển, phần lớn diện tích có cao trình thấp (dưới 1 m so với mực nước biển), lại có độ che phủ rừng thấp nhất nước, khoảng 12,1% (Cục kiểm lâm, 2006), cơ sở hạ tầng chưa phát triển, nguồn nhân lực chưa mạnh, chưa có kinh nghiệm về năng lực quản trị và chịu tác động mạnh của sự phát triển hệ thống các đập thủy điện chưa hợp lý trên hệ thống sông mẹ Mê Kông, nhất là các dự án thủy điện đều chưa được phân tích, đánh giá đầy đủ nên các tác động đều ở điều kiện trạng thái cực đại .


     4. Đổi mới và sáng tạo trong tổ chức khai thác, sử dụng và phát triển hiệu quả tài nguyên không gian trong bối cảnh BĐKH
      Sử dụng tài nguyên không gian, chủ động ứng phó BĐKH để phát triển kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đặc biệt là công tác nghiên cứu điều tra các quá trình tự nhiên, xã hội, văn hóa , thị trường, BĐKH trong quá khứ và hiện tại, các nguồn lợi tài nguyên môi trường, giá trị sử dụng của chúng , , triển khai tổ chức các dịch vụ công ích cho khai thác, tiến hành công tác quy hoạch phát triển, đề xuất các chính sách hỗ trợ và tăng cường năng lực quản trị… Nhưng trong việc xử lý, phân tích sâu các thông tin thu nhận được, các chuyên gia vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do sự thiếu đồng bộ của thông tin, sự quản lý thông tin chưa khoa học, tính khách quan và thời sự của thông tin chưa.

     Đó thực sự là thách thức đối với quá trình phát triển nhận thức để ứng phó với BĐKH trong quản lý tài nguyên môi trường, có thể tạo ra những “ngộ nhận” về giá trị tài nguyên, về vai trò của vùng và về khả năng quản lý phát triển kinh tế của từng địa phương… Việc khai thác, sử dụng hiệu quả các tài nguyên và dịch vụ khu vực Nam Bộ đang gặp nhiều khó khăn do khai thác quá mức, do những xung đột trong các hoạt động kinh tế và do “những thiệt hại âm thầm” mà tác động tích lũy của các hoạt động khác nhau gây ra, bao gồm những thiệt hại về năng suất và đa dạng sinh học. Hiện tại, kinh tế Nam Bộ đang còn dựa quá nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, vào khả năng tăng vốn đầu tư từ bên ngoài. Đối với Nam Bộ, tác động của thiên tai đối với kinh tế - xã hội, đối với việc khai thác và phát triển là hết sức nghiêm trọng, gây không ít khó khăn cho việc tăng trưởng kinh tế.

Để ứng phó có hiệu quả với BĐKH, trong quản trị phát triển ở Nam Bộ, phải xây dựng quy trình đưa ra quyết định và chính sách tổng hợp; các thể chế quản lý và phát triển, nhất là các vùng có nguy cơ tổn thương cao do BĐKH, như các hệ sinh thái nông nghiệp, vùng có cao trình thấp, vùng biển, ven biển, hải đảo với các hoạt động cụ thể dựa vào năm yếu tố: điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, con người, nguồn tài chính và phương thức tổ chức cộng đồng.

     Khả năng và tư duy trong vận dụng các cơ sở khoa học, kinh tế, xã hội phù hợp với xu thế thời đại, ứng dụng các công cụ quản lý tài nguyên phù hợp, thích ứng với BĐKH để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm tính nguyên vẹn về đa dạng sinh học, môi trường, cảnh quan và văn hóa là một trong những chìa khóa cơ bản cho sự thành công và thịnh vượng.
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.